Bệnh giang mai

Bệnh giang mai - Bệnh lây qua đường tình dục nguy hiểm

 

Giang Mai là một bệnh do quan hệ tình dục, rất dễ lây truyền. Nếu không được điều trị, bệnh Giang Mai tiến triển qua 3 thời kì:

1. Thời kì thứ nhất: từ 3 đến 4 tuần sau khi nhiễm vi trùng.

2. Thời kì thứ hai: 4 đến 8 tuần sau đó.

3. Thời kì thứ ba: 1 đến 30 năm sau.

Giữa thời kì thứ 2 và thời kì thứ 3 là Thời kì Tiềm ẩn: người nhiễm vi trùng trong thời kì này không có triệu chứng hay biểu hiệu gì. Thời kì này có thể kéo dài 1 năm đến vài chục năm.

Những thương tổn ở da trong thời kì 1 và 2 tự nhiên lành sau vài tuần hay vài tháng. Bệnh rất dễ lây nhưng cũng có thể trị dứt trong 2 thời kì này. Trong thời kì thứ 3, bệnh gây tổn hại đến tim, não, tủy sống, mắt và những cơ quan khác, thuốc kháng sinh không còn có thể trị dứt được và người bệnh có thể mạng vong.

Nguyên nhân:

• Bệnh do nhiễm vi trùng Treponema pallidum do quan hệ tình dục, cả đường âm đạo, miệng và hậu môn.

• Người mẹ bị nhiễm khi mang thai có thề truyền bệnh cho thai nhi.

Ảnh minh họa: Luôn lưu ý khi có dấu hiệu viêm nhiễm phụ khoa khi mang thai

Ảnh minh họa: Luôn lưu ý khi có dấu hiệu viêm nhiễm phụ khoa khi mang thai

Triệu chứng:

1. Thời kì thứ nhất: vết lỡ ở nơi vi trùng xâm nhập vào cơ thể, ở chổ da bị trầy sướt, thường ở dương vật, âm đạo, cổ tử cung, vùng hậu môn, hay miệng.

2. Thời kì thứ hai: nổi ban ở lòng bàn tay, bàn chân, nổi về xám ở miệng, nóng sốt nhẹ, nhức đầu, đau họng, nổi hạch ở cổ, nách, bẹn (háng).

3. Thời kì thứ ba: mất thăng bằng, mất kiểm soát bọng đái, đau nhức dữ dội xảy đến đột ngột, mất cảm giác ở chân, tê liệt, liệt dương, thay đổi tánh tình, giảm trí nhớ, điên loạn, mù mắt, suy tim xung huyết. 

Định bệnh: dựa vào

• Bệnh sử và khám cơ thể trực tiếp.

• Xét nghiệm màu để tìm kháng thể chống lại vi trùng.

• Xem với kính hiển vi chất dịch ở những vết tổn thương ở da.

• Xét dịch não tủy để định bệnh ở hệ thần kinh trong thời kì thứ 3.

Những xét nghiệm để định bệnh Giang Mai:

Xét nghiệm VDRL (Venereal Disease Research Laboratory) là một xét nghiệm sàng lọc. VDRL trở nên (+) 1-2 tuần sau khi sang thương phát hiện. Nếu (+) thì cần làm thêm xét nghiệm FTA-ABS để xác định bệnh Giang Mai. Xét nghiệm VDRL có thể (-) trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của bệnh Giang Mai. Xét nghiệm này trở nên (-) một thời gian sau khi trị dứt bệnh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, VDRL (+) có thể tồn tại suốt đời.

Xét nghiệm RPR (Rrapid plasma reagin) cũng là một xét nghiệm sàng lọc, để tìm kháng thể trong máu của người nhiễm vi trùng Giang Mai. RPR và VDRL có thể (+) trong 78-86% các trường hợp bệnh Giang Mai ở Thời kì 1, 100% trong Thời kì 2 và 95-98% trong Thời kì 3. Nếu xét nghiệm RPR (+) thì cần làm thêm xét nghiệm FTA-ABS để phân biệt bệnh Giang Mai với những bệnh khác (như HIV, bệnh Lyme, một số bệnh Viêm Phổi, bệnh Sốt Rét, bệnh Lupus). Xét nghiệm RPR cũng được dùng để theo dõi kết quả của việc trị liệu bệnh Giang Mai. Sau khi điều trị, lượng kháng thể chống Giang Mai sẽ giảm xuống. Nếu lượng kháng thể không giảm hoặc gia tăng thì có nghĩa là bệnh vẫn tồn tại.

Xét nghiệm FTA-ABS (Fluorescent treponemal antibody absorption test). FTA-ABS dừng để xác định bệnh Giang Mai sau khi xét nhiệm RPR hoặc VDRL có kết quả (+) hoặc nếu RPR hay VDRL có kết quả (-) nhưng bác sĩ còn nghi ngờ bệnh Giang Mai ở trong thời kì 1 hay 3. Kết quả FTA-ABS (-) có nghĩa là không bị nhiễm vi trùng Giang Mai và chưa từng bị bệnh Giang Mai. Kết qua FTA-ABS (+) có nghĩa là bị nhiễm bệnh Giang Mai. FTA-ABS có thể (+) trong một số trường hợp bệnh Ghẻ Cóc (yaws) hay bệnh Lupus. Trong bệnh Giang Mai, FTA-ABS tiếp tục (+) suốt đời, và vì thế xét nghiệm này không thể dùng để theo dõi việc điều trị.

Xét nghiệm MHA-TP (Microhemagglutination assay) và TPHA (T. pallidum hemagglutination assay): hai xét nghiệm này tương đương với nhau và hiện nay ít khi được dùng vì có những xét nghiệm mới dễ thực hiện hơn. MHA-TP và TPHA dùng để tìm kháng thể chống vi trùng Giang Mai, và được dùng để xác định bệnh Giang Mai sau khi những xét nghiệm khác như VDRL có kết quả (+). Hai xét nghiệm này cũng có thể dùng dể sàng lọc bệnh Giang Mai trừ khoàng thời gian 3-4 tháng đầu từ khi nhiễm bệnh vì lượng kháng thể trong thời gian này còn thấp. MHA-TP và TPHA ít chính xác hơn FTA-ABS trong thời kì 1 của bệnh Giang Mai. MHA-TP và TPHA tiếp tục (+) suốt đời nên không thể dùng để theo dõi việt trị liệu. Hai xét nghiệm này có thể (+) trong trướng hợp bệnh Cùi (leprosy).

Điều trị:

Tiêm thuốc kháng sinh penicillin có thể trị dứt bệnh trong thời kì 1 và 2.

Những người bạn tình cũng cần được điều trị.

Phòng ngừa:

• Dùng bao cao su mỗi khi giao hợp.

• Kiêng cữ, không quan hệ tình dục trong thời gian trị bệnh và đến khi 2 lần tái khám cho biết không còn nhiễm bệnh.

Sưu tầm

>> Nhiễm trùng khi mang thai: nhiễm nấm, lậu, viêm đường tiết niệu..

>> Phụ nữ mang thai dễ bị cao huyết áp

>> Chia sẻ kinh nghiệm và chi phí đi đẻ ở bệnh viện Phụ Sản Hà Nội


Que thử nước tiểu

Que thử nước tiểu Geratherm Infection Control

 

Sử dụng dễ dàng, tiện lợi ngay tại nhà

Phát hiện sớm các hiện tượng viêm nhiễm đường tiết niệu, bàng quang

Phát hiện 4 thông số: hồng cầu, bạch cầu, protein, nitrite, thể hiện qua bảng ký hiệu màu

Đọc kết quả dễ dàng bằng bảng ký hiệu màu

Kết quả nhanh sau 2 phút

Xem chi tiết sản phẩm tại Shop Bibun

Bình luận Facebook
Tin mới

Các tin khác